Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Khi du khách rời đi, bản làng còn lại gì?

Du lịch xanh, những hệ sinh thái nhỏ xinh và quyền làm chủ của cộng đồng

TS. Phạm Hà
Chủ tịch sáng lập kiêm Tổng giám đốc LuxGroup®; Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Xanh Việt Nam

Hãy nhìn vào một bữa ăn của du khách ở Pù Luông. Trên mâm cơm có công người trồng rau, người nấu và người gìn giữ cách chế biến. Phía sau còn có người dẫn đường, người dệt vải, người chăm sóc căn nhà đón khách. Một bữa ăn tưởng nhỏ, nhưng phía sau là cả một hệ sinh thái sinh kế. Khi khách thanh toán, bao nhiêu người trong bản thực sự có phần?

Trong hơn hai thập kỷ làm du lịch, tôi thấy khoảng cách lớn nhất giữa định hướng “du lịch xanh” và đời sống nằm ở khả năng trả lời câu hỏi ấy. Một gia đình không thể sống bằng khẩu hiệu. Họ cần biết mình bán gì, cho ai, đầu tư bao nhiêu và sau chi phí còn lại bao nhiêu. Họ cần nước sạch, cách xử lý rác, kỹ năng phục vụ và quyền thương lượng. Dựng thêm nhà nghỉ có thể làm tăng số phòng mà không làm tăng năng lực cộng đồng.

Một hệ sinh thái xanh nhỏ xinh

Tại LuxGroup®, chúng tôi theo đuổi ý tưởng A House of Small Giants: nhiều đơn vị đủ nhỏ để hiểu con người và nơi chốn, đủ giỏi để làm tốt việc của mình, đủ gắn kết để tạo giá trị lớn hơn. Từ hành trình của Lux Travel DMC, du thuyền, lưu trú, ẩm thực đến nghệ thuật, mỗi mắt xích có thể mở cơ hội cho người địa phương. Quy mô “nhỏ xinh” giúp ta nhìn thấy từng con người, dòng nước và tác động của mỗi quyết định kinh doanh.

ESG chỉ có ý nghĩa khi đi vào lựa chọn hằng ngày. Môi trường là nước thải không chảy xuống suối, lượng khách không vượt sức chịu tải. Xã hội là người nông dân, nghệ nhân, hướng dẫn viên và chủ nhà được trả công xứng đáng. Quản trị là giá mua minh bạch, thanh toán đúng hạn, trách nhiệm an toàn rõ ràng. Một khu nghỉ có nhiều cây xanh nhưng khiến cộng đồng mất quyền tiếp cận nguồn nước thì chưa thể gọi là du lịch xanh.

Không phải nơi nào có cảnh đẹp cũng nên xây homestay. Trước khi đầu tư, cần hỏi cộng đồng có muốn đón khách không; trải nghiệm nào thuộc về họ; đường đi, nước, vệ sinh và an toàn đã đủ chưa; khách có sẵn sàng trả tiền không. Nếu chưa rõ, hãy làm thử một tuyến đi bộ, bữa ăn hay buổi tìm hiểu nghề thủ công với nhóm nhỏ và trả phí đầy đủ. Xem lại thu chi, hỏi người dân có muốn tiếp tục. Nếu nguy cơ lũ quét, sạt lở chưa được đánh giá, hoặc cộng đồng chưa đồng thuận, hãy dừng kế hoạch xây dựng. Cảnh đẹp không thể bù cho nơi thiếu an toàn.

Di sản sống cùng người gìn giữ

Du lịch có thể đưa di sản đến gần công chúng, nhưng di sản không phải đạo cụ trang trí. Ở bản làng miền núi, đó có thể là tri thức cây thuốc, nghề dệt, nếp nhà, món ăn, tiếng nói, lễ hội của cộng đồng. Ở đồng bằng, đô thị và bên bờ sông là những không gian khác: tiếng xẩm, ca trù, giọng hát ả đào. Mỗi truyền thống có lịch sử, người thực hành và quy tắc riêng.

Ca trù, với tiếng hát đào nương, đàn đáy và trống chầu, cần người học, người dạy, không gian biểu diễn và khán giả biết lắng nghe. Hát xẩm cũng cần nghệ nhân được trả công, được giới thiệu đúng tên và có cơ hội truyền nghề. Một hành trình di sản không nên dừng ở vài phút biểu diễn cho khách chụp ảnh. Người nghệ sĩ cần có thời gian giải thích tác phẩm, hưởng lợi từ công sức và tiếp tục dạy thế hệ sau. Ca trù được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp từ năm 2009; việc trao truyền giữa các thế hệ vẫn là một nhiệm vụ quan trọng.

Những dòng sông Việt Nam từng nuôi dưỡng chợ, làng nghề và bến nước. Với tầm nhìn Vietnam Waterways 2045, LuxGroup® mong hành trình trên sông biển nối khách với cộng đồng bên bờ: mua sản phẩm địa phương, tìm hiểu bến cảng, thưởng thức nghệ thuật một cách tôn trọng. Con tàu đi ngang rồi mang toàn bộ doanh thu đi nơi khác thì chưa đánh thức được dòng sông. Người gìn giữ di sản phải có tiếng nói, thu nhập và vị trí trong thiết kế sản phẩm.

Người dân làm chủ cả dữ liệu lẫn quyết định

Chuyển đổi số có thể bắt đầu từ chiếc điện thoại đang dùng. Hình ảnh đúng với căn phòng, vị trí dễ tìm, giá và điều kiện đặt hủy rõ ràng; có người trả lời và ghi nhận đặt phòng. Với khách quốc tế, một đoạn giới thiệu bằng ngoại ngữ và vài mẫu trả lời tử tế đã hữu ích. Người trẻ hỗ trợ cập nhật thông tin, người lớn tuổi trao lại tri thức về nơi chốn. Tài khoản, bảng giá và dữ liệu đặt phòng phải do hộ kinh doanh hoặc nhóm cộng đồng quản lý. Công cụ chỉ có ích khi người dân tự sửa được giá, biết số khách và khoản tiền nhận được.

Đào tạo cũng phải đi đến năng lực ấy. Học ngay trong căn bếp, phòng nghỉ, trên tuyến đi bộ và tại bàn tính giá; thực hành đón khách, xử lý phản hồi, sơ cứu, ghi chép thu chi và đọc thỏa thuận với đối tác. Sau lớp học cần có người đồng hành qua một mùa kinh doanh để cùng nhìn lại chất lượng, chi phí và lợi nhuận. Người dân phải có quyền nói điều gì được giới thiệu, điều gì cần xin phép và điều gì thuộc không gian riêng hoặc thiêng liêng. Quyền nói “không” là một phần của quyền làm chủ.

Với Hiệp hội, tôi đề xuất bắt đầu bằng một thí điểm nhỏ: một cộng đồng tự nguyện, một địa phương hỗ trợ điều kiện cần thiết, một nhóm doanh nghiệp cùng thiết kế trải nghiệm và đưa khách thử nghiệm có trả phí. Thỏa thuận phải rõ giá, hạn thanh toán, hủy chuyến, an toàn và quyền sử dụng hình ảnh, câu chuyện văn hóa. Sau mỗi mùa, hãy công khai với những người tham gia ba kết quả: khách đánh giá ra sao, từng nhóm hộ thực nhận bao nhiêu và cộng đồng có muốn tiếp tục không. Làm tốt một nơi, hiểu thật kỹ nơi ấy, rồi mới nhân rộng.

Du lịch xanh không được đo bằng số biển hiệu xanh treo trước cửa. Nó hiện ra khi bản làng an toàn hơn, dòng nước sạch hơn, người làm nghề có thêm học trò, người làm dịch vụ biết tính lãi và người dân tự chọn được tương lai của mình. Tôi mong du khách rời đi với một tình yêu và sự tôn trọng sâu hơn dành cho Việt Nam. Còn cộng đồng ở lại có thêm thu nhập, thêm niềm tự hào và thêm điều kiện gìn giữ nơi mình sống. Đó là hạnh phúc mà chúng tôi muốn cùng tạo ra.

Leave a comment