Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Ai làm chủ bản làng khi khách du lịch đến?

Phạm Hà

Một đoàn khách đến bản, ngủ một đêm, ăn hai bữa, mua vài món đồ thủ công rồi rời đi. Trên báo cáo, điểm đến có thêm lượt khách và doanh thu. Nhưng người nấu ăn được trả bao nhiêu sau khi trừ nguyên liệu? Người dệt tấm vải có tự định giá sản phẩm? Ai quyết định đoàn tiếp theo được vào bản lúc nào, và ngôi nhà nào muốn đóng cửa để gia đình nghỉ ngơi?

Những câu hỏi ấy giúp nhận ra một điểm đến có khách du lịch và một cộng đồng làm chủ du lịch là hai trạng thái rất khác nhau.

Tại một cuộc tọa đàm gần đây về du lịch vùng dân tộc thiểu số, tôi cùng các diễn giả trao đổi về con đường từ bản sắc tới sinh kế. Tôi nghĩ phép thử khó nhất nằm ở chữ “làm chủ”. Người dân có thể biểu diễn, nấu ăn, dọn phòng và dẫn đường nhưng vẫn đứng ngoài những quyết định quan trọng: sản phẩm được bán cho ai, giá bao nhiêu, khách được tiếp cận điều gì và nguồn thu được phân chia ra sao.

Khi ấy, bản làng cung cấp bối cảnh, còn người khác sở hữu sản phẩm.

Du lịch cộng đồng thường bắt đầu từ những gì một nơi đã có: cảnh quan, nếp nhà, món ăn, nghề thủ công và tri thức được truyền qua nhiều thế hệ. Sự hấp dẫn ấy không đồng nghĩa mọi thứ đều sẵn sàng để bán. Một nghi lễ có ý nghĩa với cộng đồng trước khi có khách đến xem. Một căn bếp là không gian sống trước khi trở thành địa điểm trải nghiệm. Người dân phải có quyền chọn điều muốn chia sẻ, cách chia sẻ và điều muốn giữ riêng.

Quyền lựa chọn đó cũng có giá trị kinh tế. Khi khách hiểu vì sao một món ăn chỉ được làm vào mùa nhất định, vì sao người thợ cần nhiều ngày hoàn thành một sản phẩm, họ có cơ sở để trả cho thời gian và tay nghề. Nếu doanh nghiệp chỉ yêu cầu “trình diễn văn hóa” theo lịch tour dày đặc, người làm nghề dễ trở thành lao động thời vụ trong chính di sản của mình.

Trao quyền cần bắt đầu trước khi xây homestay hay đưa bản làng lên bản đồ quảng bá. Cộng đồng nên tham gia xác định quy mô đón khách, tuyến tham quan, quy tắc chụp ảnh, cách sử dụng không gian chung và những hoạt động không mở cho du lịch. Việc thảo luận phải có tiếng nói của các hộ không kinh doanh dịch vụ, vì họ cũng sống với tiếng ồn, rác thải, giá đất và thay đổi trong sinh hoạt hằng ngày.

Một mô hình có thể rất thành công với vài gia đình sở hữu phòng nghỉ, trong khi những hộ còn lại chỉ bán hàng lặt vặt hoặc không có nguồn thu. Khi lợi ích tập trung mà chi phí được chia đều, sự đồng thuận ban đầu khó kéo dài. Vì thế, cần công khai các khoản thu từ dịch vụ chung, tiêu chí chọn người cung ứng và phần đóng góp cho những việc cả bản cùng hưởng, như nước sạch, xử lý rác hay bảo dưỡng đường đi. Không có một tỷ lệ chia tiền đúng cho mọi nơi; điều cần có là cách thỏa thuận mà người dân hiểu, kiểm tra và sửa được.

Doanh nghiệp lữ hành giữ một vai trò thiết yếu trong thỏa thuận ấy. Người dân hiểu quê hương mình; doanh nghiệp hiểu thị trường, đặt chỗ, an toàn và kỳ vọng của khách. Một quan hệ tốt giúp hai năng lực gặp nhau. Doanh nghiệp có thể cùng cộng đồng thử sản phẩm, đào tạo cách tiếp đón, đưa khách phù hợp và cam kết điều kiện thanh toán rõ ràng. Đổi lại, doanh nghiệp phải tôn trọng giới hạn mà cộng đồng đặt ra, kể cả khi giới hạn ấy khiến một chương trình khó bán hơn.

Tôi từng thấy các bản giới thiệu du lịch hứa với khách một trải nghiệm “nguyên bản” mà không giải thích người dân sẽ thực sự làm gì, được trả thế nào. Từ ngữ đẹp không thay được hợp đồng minh bạch. Nếu hành trình có bữa ăn tại nhà, hãy thống nhất trước số khách, thực đơn, mức trả và người chịu chi phí khi đoàn hủy. Nếu mời nghệ nhân hướng dẫn, hãy trả cho cả thời gian chuẩn bị lẫn thời gian gặp khách. Nếu dùng câu chuyện hay hình ảnh của một cá nhân để bán tour, cần sự đồng ý của họ.

Một trở ngại khác là năng lực thương mại. Biết nấu một bữa ăn ngon chưa đồng nghĩa biết tính giá để có lãi. Có căn nhà đẹp chưa đủ để quản lý đặt phòng, phòng cháy, vệ sinh và phản hồi. Đào tạo vì thế phải đi cùng thực hành: ghi chi phí từng bữa, tính công lao động trong gia đình, trả lời yêu cầu của khách, kiểm tra chất lượng và xử lý một lời phàn nàn. Hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường chỉ bền khi họ dần tự kiểm soát được những công việc này.

Cũng cần chấp nhận rằng không phải hộ nào cũng muốn mở cửa đón khách. Một gia đình có thể tiếp tục làm nông nghiệp và bán nguyên liệu cho bếp ăn. Người khác muốn dệt vải, sửa nhà, lái xe hoặc làm hướng dẫn viên theo mùa. Du lịch cộng đồng có sức sống khi tạo ra nhiều cách tham gia, để người dân lựa chọn theo kỹ năng và nhịp sống của mình. Ép cả bản trở thành một sân khấu thống nhất sẽ làm mất chính sự đa dạng khiến khách muốn đến.

Chính quyền địa phương có phần việc riêng: hạ tầng thiết yếu, hướng dẫn quy định, hỗ trợ đào tạo và bảo vệ tài nguyên chung. Một con đường tốt đưa khách vào bản; hệ thống nước và xử lý rác giúp người dân sống được khi khách tăng. Các khoản đầu tư này cần được tính theo sức chịu đựng của điểm đến. Thêm khách không phải lúc nào cũng là tin vui nếu nguồn nước thiếu, đường quá tải hoặc người trẻ bỏ nghề truyền thống để chạy theo một mùa du lịch ngắn.

Chúng ta cũng nên đổi cách hỏi về thành công. Bên cạnh lượt khách và doanh thu, hãy xem thu nhập ròng của các hộ tham gia sau chi phí, số người địa phương giữ vai trò quản lý, tỷ lệ hàng hóa dịch vụ được mua trong vùng và ý kiến của những hộ không kinh doanh. Hãy xem cảnh quan có được chăm sóc hơn không, người làm nghề có muốn truyền nghề cho con cháu không. Những điều ấy khó gói trong một con số duy nhất, nhưng bỏ qua chúng thì khó biết du lịch đang nuôi dưỡng hay tiêu hao điểm đến.

Tôi tin nhiều du khách sẵn lòng đi chậm hơn, theo nhóm nhỏ hơn và trả mức giá hợp lý để có một cuộc gặp gỡ chân thành. Điều kiện là người bán phải nói rõ khách nhận được gì và khoản chi ấy hỗ trợ ai. Du lịch có giá trị cao không nhất thiết đòi hỏi sự xa hoa được dựng lên trong bản làng. Một người dẫn đường hiểu từng lối mòn, một người thợ kể được câu chuyện của nghề, một bữa ăn được chuẩn bị chu đáo đã có thể tạo nên trải nghiệm đáng nhớ.

Cuối cùng, quyền làm chủ phải bao gồm quyền nói “chưa”. Chưa nhận thêm đoàn vào ngày lễ của gia đình. Chưa mở một lối đi qua khu vực cần bảo vệ. Chưa bán một tập tục mà cộng đồng chưa thống nhất cách giới thiệu. Khách có thể đổi lịch; người dân phải sống ở đó cả năm.

Khi chiếc xe cuối cùng rời bản, điều còn lại cần lớn hơn vài bức ảnh và một con số lượt khách. Đó là thu nhập xứng đáng, kỹ năng mới, môi trường sống được chăm sóc và quyền của người dân được quyết định bản làng sẽ đón thế giới như thế nào.

TS Phạm Hà là nhà sáng lập, CEO LuxGroup và Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Xanh Việt Nam.

Leave a comment